Cấp nhãn hiệu môi trường

Việc cấp nhãn hiệu môi trường (EL) cho các nước đang phát triển là phù hợp và nó liên quan trực tiếp tới việc xuất khẩu hàng hoá. Thị trường trong nước về các sản phẩm được cấp nhãn hiệu sinh thái thực ra là nhỏ bé.

Các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường hiện có bị phê phán về việc nó tạo ra các hàng rào thương mại phi thuế quan, đặc biệt đối với các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển. Thí dụ Chương trình Liên hiệp Châu Âu yêu cầu các công ty phải xem xét tất cả các luật pháp Liên hiệp Châu Âu có thể áp dụng được (nó được mở rộng tới quy trình sản xuất) đủ tư cách là nhãn hiệu sinh thái của Liên hiệp Châu Âu. Đồng thời, các chương trình này cần thiết phải xây dựng được các tiêu chuẩn cao để duy trì được độ tin cậy.

Các tiêu chuẩn cấp nhãn hiệu ISO 14000 có mục tiêu là tránh các hàng rào thương mại tiềm tàng khi thực hiện cấp nhãn hiệu môi trường. Các tiêu chuẩn không định ra một kế hoạch cấp nhãn hiệu thống nhất mang tính quốc tế mà chỉ cung cấp các hướng dẫn để tránh các hoạt động phân biệt trong các chương trình cấp nhãn hiệu quốc gia và khu vực. Những hướng dẫn này có thể được các nước sử dụng hoặc là để thiết kế các kế hoạch tương lai hoặc là để sửa đổi các kế hoạch đã có của mình.


Để phân tích tác động tiềm tàng của các tiêu chuẩn cấp nhãn hiệu ISO 14000 đến phát triển thương mại đất nước, các khía cạnh của các kế hoạch cấp nhãn hiệu hiện có có thể tạo ra các hạn chế thương mại sẽ được mô tả đến trước tiên. Sau đó sẽ xem đến việc là các tiêu chuẩn ISO có thể có khả năng như thế nào để tránh tạo ra các hàng rào cản trở thương mại. Những yếu tố sau đây có thể được coi là quan trọng.

Tính rõ ràng và khả năng tiếp cận thông tin

Việc cùng tồn tại của các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường khu vực và quốc gia kéo theo một loạt các yêu cầu khác nhau. Các nhà xuất khẩu tại các nước đang phát triển có thể gặp khó khăn trong việc nhận thông tin chính xác và kịp thời về những yêu cầu này và điều chỉnh lại các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường. Các quyết định đầu tư có thể bị cản trở bởi sự thay đổi nội dung cuả các yêu cầu đó và thời hạn hiệu lực của chúng. Thiếu thông tin và tính rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho các nhà sản xuất nước ngoài tham gia vào việc xây dựng các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường để biểu thị những quan tâm của mình.

Mặc dù việc tiếp cận tới thông tin về các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó một số các yếu tố có thể chịu ảnh hưởng của các tiêu chuẩn quốc tế. Trước hết, các tiêu chuẩn ISO truyền đạt các nguyên tắc chung về các yêu cầu và các thủ tục phải sử dụng trong các chương trình cấp nhãn hiệu môi trường và do đó định hướng cho các nhà sản xuất thực hiện những kế hoạch này. Hơn nữa, các tiêu chuẩn yêu cầu tính rõ ràng của những chương trình, các quy trình và các phương pháp cấp nhãn hiệu môi trường được sử dụng. Tính rõ ràng hơn sẽ cải thiện khả năng nhận được thông tin cuả các nhà sản xuất nước ngoài. Điều đó tạo cho họ khả năng tham gia vào việc xây dựng các chỉ tiêu và đặt ra các thủ tục.

Tiếp cận tới các chương trình cấp nhãn hiệu môi trường

Các chi phí lớn hoặc lệ phí cao khi tham gia vào các chương trình cấp nhãn hiệu môi trường có thể là một hàng rào cản trở đối với các công ty ở các nước đang phát triển, đặc biệt là đối với các công ty nhỏ khi muốn xin cấp một nhãn hiệu. Mức độ phức tạp của một chương trình cũng có thể cản trở cho việc tiếp cận.

Các tiêu chuẩn ISO yêu cầu sự tiếp cận bình đẳng tới chương trình cấp nhãn hiệu môi trường đối với tất cả các bên quan tâm. Trong đó có việc loại bỏ các cản trở hành chính làm hạn chế việc tiếp cận một chương trình, các chi phí hoặc các lệ phí quá mức để thâm nhập chương trình đó, cũng như giảm mức độ phức tạp tổng thể của chương trình.

Các nhà sản xuất nước ngoài có thể không tiếp cận tới chương trình cấp nhãn hiệu môi trường vì sản phẩm của họ không phù hợp với các loại sản phẩm được chọn để cấp nhãn hiệu. Kinh nghiệm với các chương trình cấp nhãn hiệu hiện có cho thấy những đề xuất về các loại sản phẩm mới là đều do các nhà sản xuất trong nước thực hiện.

Điều khó khăn cho các nhà sản xuất nước ngoài tác động đến tiến trìnn này là do một số các lý do: thiếu tiếp cận đối với quá trình lựa chọn, thiếu thông tin hoặc kinh phí eo hẹp và thiếu nghiên cứu về các loại sản phẩm phù hợp để cấp nhãn hiệu. Do đó, các sản phẩm được xuất khẩu từ các nước đang phát triển thường là bị loại ra.

Các tiêu chuẩn ISO kêu gọi chấp thuận các sản phẩm được xem là các sản phẩm thân thiện về môi trường tại nước sản xuất trong quá trình xác định các loại sản phẩm hợp pháp đối với nhãn hiệu sinh thái ở trong chương trình cấp nhãn hiệu môi trường của quốc gia.

Lựa chọn các chỉ tiêu tuân thủ

Việc xác định các chỉ tiêu để cấp nhãn hiệu trong các chương trình đơn phương có thể dễ bị các nhà sản xuất trong nước tác động đến hơn. Những ngưỡng liên quan đến các chỉ tiêu này thường là dựa vào các mô hình sản xuất trong nước và tập trung vào các điều kiện và các ưu tiên địa phương.

Các chỉ tiêu có thể vì thế mà được các hãng trong nước thực hiện một cách dễ dàng hơn.

Các nhà xuất khẩu của các nước đang phát triển có thể gặp trắc trở khi thực hiện các chỉ tiêu này vì cnúng yêu cầu sử dụng các đầu vào, thí dụ như các hoá chất hoặc các vật liệu tái chế được, mà những đầu vào đó lại không có ở nước đang phát triển. Yêu cầu đối với việc tái chế có thể buộc các nhà sản xuất nước ngoài sử dụng các nguyên liệu tái chế được ở tại nước nhập khẩu, mặc dù chúng không thân thiện về mặt môi trường so với các nguyên liệu thường được sử dụng tại nước sản xuất.

Các kế hoạch cấp nhãn hiệu sinh thái hiện tại thường dựa vào các tiêu chuẩn liên quan tới quá trình sản xuất. Những tiêu chuẩn này đòi hỏi có sự tuân thủ các tiêu chuẩn trong tất cả các giai đoạn sản xuất, thậm chí cả các giai đoạn nằm ngoài sự kiểm soát của công ty sản xuất sản phẩm cuối cùng. Việc đánh giá sự tuân thủ trở nên phức tạp và tốn kém hơn. Các chỉ tiêu liên quan tới quá trình sản xuất có thể đòi hỏi phải sử dụng các công nghệ riêng biệt khó với tới và rất đắt đỏ.

Việc sử dụng các chỉ tiêu này yêu cầu phải có sự phân tích chu trình sống của sản phẩm và việc này cần có nghiên cứu tích cực và do đó kéo theo chi phí rất lớn. Nếu các chỉ tiêu được xây dựng nên tuân theo các điều kiện nước xây dựng kế hoạch, thì những thành tựu môi trường do các nước đang phát triển thu được, thí dụ như các đầu vào thân thiện về mặt môi trường và/hoặc sản xuất và các phương pháp của quá trình sản xuất, sẽ bị bỏ qua.

Các tiêu chuẩn ISO có thể làm giảm được các cản trở đó bằng cách thúc đẩy khái niệm "tương đương". Điều này có nghĩa là các điều kiện môi trường của nước sản xuất phải được lưu ý tới. Sản xuất và các phương pháp của quá trình sản xuất liên quan khi được chấp nhận về mặt môi trường tại nước sản xuất phải được chấp thuận như là chỉ tiêu tương đương đối với các chỉ tiêu do nước cấp nhãn hiệu dựng nên.

Hơn nữa, những yêu cầu đối với việc tuân thủ các quy định liên quan tới quá trình sản xuất tại nơi sản xuất cần phải linh hoạt và ở nơi có thể, phải lưu ý tới các yêu cầu môi trường quốc gia của nước sản xuất. Những yêu cầu thực hiện luật pháp quốc gia riêng biệt chứ không phải thực hiện những mục tiêu hoạt động phải được bãi bỏ.

Nhiều chỉ tiêu hoặc các ngưỡng đã được chọn trong các kế hoạch hiện có để cấp nhãn hiệu không phải dựa vào kiến thức khoa học mà là vào đánh giá giá trị và do đó không khách quan. Các tiêu chuẩn ISO dự kiến đề nghị rằng các chỉ tiêu phải khách quan, tổng hợp, rõ ràng và phù hợp.

Việc lựa chọn các chỉ tiêu phải dựa vào các phương pháp khoa học, có khả năng mô phỏng và chúng được xem xét lại định kỳ để bổ sung các phát triển mới.

Đánh giá sự phù hợp

Trong lĩnh vực đánh giá sự phù hợp, các nhà sản xuất ở các nước đang phát triển đương đầu với một số vấn đề như việc cấp nhãn hiệu môi trường và hệ thống quản lý môi trường. Thiếu các phương tiện đánh giá (thí dụ phòng thí nghiệm để kiểm định sản phẩm, thiếu độ tin cậy) là những lý do tại sao phần lớn các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường của nước ngoài đòi hỏi phải có các cuộc thanh tra các phương tiện của nhà xuất khẩu do các cơ quan thẩm quyền được họ chỉ định thực hiện hoặc phải có chứng chỉ do cơ quan cấp chứng chỉ được quốc tế chấp nhận cấp.

Đối với một nhà xuất khẩu xin cấp nhãn hiệu môi trường tại nước nhập khẩu, chứng chỉ ISO 14001 hay ISO 9000 có thể có ưu thế là không cần các bên điều tra nơi sản xuất liên quan tới kiểm soát chất lượng môi trường nữa. Những chứng chỉ này có thể được dùng như là một phương tiện để đảm bảo rằng chất lượng sản phẩm là được chấp thuận.

Các tiêu chuẩn cấp nhãn hiệu sinh thái ISO tạo cơ sở cho việc công nhận song phương. Công nhận song phương có nghĩa là các nước công nghiệp hoá cấp cho sản phẩm nhãn hiệu sinh thái trên cơ sở là nó có đủ tiêu chuẩn để cấp nhãn hiệu môi trường tại nước xuất khẩu. Cơ sở cho việc công nhận song phương là khái niệm "tương đương" do ISO đề xuất.

Hơn nữa, việc thiết kế các chương trình cấp nhãn hiệu môi trường quốc gia của các nước đang phát triển tuân theo các hướng dẫn của Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế có thể làm cho các chương trình này đáng tin cậy hơn dưới con mắt của các cơ quan cấp chứng chỉ nước ngoài.

Thêm vào đó các tiêu chuẩn đòi hỏi phải có các phương pháp kiểm định và chúng phải tuân theo các hướng dẫn đã được công nhận. Việc kiểm định quốc gia hay kiểm định công nghiệp thường tạo ra các hàng rào thương mại, thí dụ như việc công nhận khắt khe các phương tiện kiểm định tạo ra một gánh nặng về địa lý không cần thiết, cần phải được bãi bỏ.

Chi phí cho việc tuân thủ các tiêu chuẩn

Nói chung, chi phí cho việc tuân thủ sẽ tăng lên nếu nhà sản xuất nước ngoài phải thực hiện những yêu cầu của các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường khác nhau vẫn còn cạnh tranh ở trên tất cả các thương trường xuất khẩu của mình. Các chi phí tuân thủ có thể bị ảnh hưởng bởi các chỉ tiêu đòi hỏi phải sử dụng các đầu vào đắt đỏ hoặc thậm chí là phải mua ở nước ngoài. Việc thiết kế và sản xuất ra một sản phẩm phù hợp với các chỉ tiêu cấp nhãn hiệu môi trường có thể đặc biệt tốn kém đối với các nhà sản xuất nhỏ. Hơn nữa, quá trình liên quan tới các chỉ tiêu có xu hướng dựa vào các điều kiện môi trường và công nghệ tại nước nhập khẩu, có thể bao hàm các chi phí cao đối với các nhà sản xuất nước ngoài. Các chi phí cho việc kiểm định và thẩm tra về việc tuân thủ các chỉ tiêu cần thiết đối với một nhãn hiệu có thể là rất cao, đặc biệt nếu phải sử dụng đến các khả năng của nước ngoài. Chi phí cho việc tuân thủ có thể gồm có cả các chi phí đào tạo và cơ cấu lại quy trình sản xuất để đáp ứng được các yêu cầu cấp nhãn hiệu môi trường.

Các nhà sản xuất tại các nước đang phát triển, đặc biệt là các nhà sản xuất nhỏ có thể coi các chi phí tuân thủ các chỉ tiêu là các chi phí quá cao.

Nguồn: vast.ac.vn

Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác Đối tác